Đã có hàng trăm cuốn sách nghiên cứu về chủ đề tài chính doanh nghiệp và hầu hết trong số đó đều nhìn nhận nó dưới những góc độ phức tạp. Ta chỉ thấy trang nối tiếp trang với những nội dung dày đặc, các công thức phức tạp và những thuật ngữ khó hiểu. Số lượng tài liệu và cách trình bày khiến người đọc cảm thấy rằng rất khó có thể hiểu được chủ đề. Tuy nhiên, trên thực tế nội dung cơ bản của vấn đề chủ yếu bao gồm một số lượng tương đối ít các con số đo lường khả năng tài chính mà chúng ta có thể sử dụng để đánh giá tình hình tài chính của bất cứ một doanh nghiệp thương mại nào. Các chỉ số cốt yếu trong quản lý dành cho các giám đốc tài chính (CFO), kế toán trưởng và các nhà quản lý doanh nghiệp. Một đề tài tưởng như khó hiểu đối với những nhà quản lý không có kiến thức chuyên môn về tài chính lại được diễn giải rất cụ thể, chi tiết trong cuốn sách này bằng các bảng biểu, sơ đồ, tình huống cụ thể.
Kết cấu bảng cân đối kế toán – tài sản cố định
Tài sản cố định là ô thứ hai trong phần tài sản. Đó là ô ở góc tây – nam của bảng cân đối kế toán (xem trong hình 2.6).
Chúng ta sử dụng thuật ngữ “Tài sản cố định” cho phần này mặc dù một số khoản mục trong đó không thực sự thích hợp với tiêu đề này. Một cách diễn đạt chính xác là “đầu tư dài hạn”, tuy nhiên thuật ngữ “tài sản cố định” lại được thường được sử dụng hơn.
Các khoản mục nằm trong phần này bao gồm trong các nhóm:
1Tài sản cố định vô hình
Nhóm này bao gồm các tài sản không có hình dạng vật chất cụ thể. Khoản chủ yếu trong đó thường là lợi thế thương mại. Đây cũng là một khoản mục thường gây ra tranh cãi, nó được giải thích cụ thể trong phụ lục 1.
2Tài sản cố định thuần
Bao gồm các tài sản vật chất cần thiết cho hoạt động của công ty, có thời gian sử dụng lâu dài và có giá trị lớn . Chúng thường bao gồm các khoản mục như đất đai, tòa nhà, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải. Phương pháp chuẩn để xác định giá trị của những tài sản này là lấy nguyên giá trừ đi khấu hao lũy kế. Đối với khoản mục đất đai, giá trị của nó thường được điều chỉnh để phản ánh đúng giá trị hiện tại (xem trong trang sau).
3Các khoản đầu tư
“Đầu tư/tài sản khác” thường bao gồm quyền sở hữu cổ phần dài hạn tại các công ty khác vì mục đích kinh doanh. Nhưng không phải các khoản đầu tư như vậy đều được đưa vào mục này. Khi công ty nắm giữ cổ phần có ảnh hưởng chi phối – do số lượng lớn cổ phần nắm giữ hoặc những lý do khác – báo cáo tài chính của công ty con sẽ hoàn toàn bị gộp vào với công ty mẹ. Điều này có nghĩa là phần tài sản và công nợ của công ty con sẽ được gộp tương ứng vào bảng cân đối kế toán của công ty mẹ. Tức là, chỉ có khoản đầu tư vào những công ty không hợp nhất mới được tính vào đầu tư dài hạn.
Một câu hỏi cũng gây nhiều tranh cãi trong một thời gian dài là khi nào thì giá trị trên bảng cân đối kế toán cần được điều chỉnh lại để phản ánh đúng giá trị thị trường của tài sản . Trong thời kỳ lạm phát cao, giá trị của tài sản tăng vọt và cần được định giá lại. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng bảng cân đối kế toán không phải để phản ánh giá trị thị trường tại thời điểm hiện tại của một công ty hay một tài sản riêng biệt. Những người mua và người bán tiềm năng cần phải xem xét những vấn đề trên một cách tỉ mỉ.
Kết cấu của bảng cân đối kế toán – phần công nợ.
Hình 2.7 cho thấy ba phần trong cột công nợ
vốn chủ sở hữu (OF)
nợ dài hạn (LTL)
nợ ngắn hạn (CL)
(Có một số nguồn vốn không được xếp vào một trong các phân loại trên. Trong giai đoạn đầu này, chúng ta chưa nghiên cứu đến chúng. Thông thường, giá trị của các khoản này thường nhỏ và sẽ được đề cập trong phụ lục 1).
Nợ ngắn hạn (CL)
Nợ ngắn hạn (xem trong hình 2.7) có mối quan hệ mật thiết với tài sản lưu động. Tài khoản đối ứng với “khoản phải trả” là “khoản phải thu” hay “tiền mặt” và “vay ngắn hạn” lại phản ánh lượng tiền lưu động thường ngày tại các thời điểm khác nhau. Chúng ta sẽ trở lại với mối quan hệ giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn trong các phần sau.
Nợ dài hạn (LTL)
Nó bao gồm các khoản cầm cố, ký cược, vay có thời hạn, trái phiếu, v.v mà thời hạn thanh toán trên một năm.